Tội ra quyết định trái pháp luật (điều 371)

ĐOÀN LUẬT SƯ TP. HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT HOÀNG SA

Địa chỉ: P713, Tòa F4, số 114 Trung Kính, Cầu Giấy, HN

Tội ra quyết định trái pháp luật (điều 371)


Bình luận

1. Ra quyết định trái pháp luật là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật.

2. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

Bộ luật hình sự năm 2015 mở rộng phạm vi chủ thể tội phạm số với Bộ luật hình sự năm 1999. Chủ thể thực hiện tội ra quyết định trái pháp luật là “người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án”.

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử, thi hành án như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó chánh án Toà án; Điều tra viên, kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Chấp hành viên mới có thể thực hiện được tội phạm này.

Nếu người có chức vụ, quyền hạn nhưng không phải là người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử, thi hành án mà ra lệnh cho người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử, thi hành án ra quyết định trái pháp luật thì tuỳ trường hợp mà họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Nhưng người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử, thi hành án vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra quyết định trái pháp luật.

3. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

Tội ra quyết định trái pháp luật không chỉ xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, mà còn ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, xâm phạm đến hoạt động bình thường của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và cơ quan thi hành án, làm mất uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng và Cơ quan thi hành án.

Đối tượng tác động của tội phạm này là những quyết định trái pháp luật của những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử, thi hành án như: quyết định thu giữ đồ vật, tài liệu; quyết định xử lý vật chứng; quyết định việc giữ khẩn cấp; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định kê biên tài sản; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định thi hành án,…Nói chung, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án những người có thẩm quyền ra nhiều quyết định có liên quan đến quá trình giải quyết một vụ án. Tuy nhiên, nếu trong các quyết định trái pháp luật nếu đó chỉ là thủ đoạn để người phạm tội thực hiện tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội hoặc ra bản án trái pháp luật thì không còn là đối tượng tác động của tội phạm này nữa.

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

a.      Hành vi khách quan

Người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử, thi hành án ra quyết định trái pháp luật có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản (nói chung là bằng văn bản) mà biết rõ là trái pháp luật.

Người thực hiện hành vi ra quyết định trái pháp luật cũng không giống nhau, mà tuỳ trường hợp người có thẩm quyền là ai mà để xác định hành vi ra quyết định có trái pháp luật hay không. Nếu người ra quyết định là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng, Cơ quan điều tra, Điều tra viên thì chỉ có thể ra các quyết định trái pháp luật trong quá trình điều tra vụ án hình sự, nhưng nếu là Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm thì không chỉ ra các quyết định trái pháp luật liên quan đến vụ án hình sự mà còn có những quyết định trái pháp luật liên quan đến các vụ dân sự, kinh tế,hành chính, lao động.

Trong trường hợp ra quyết định bằng miệng thì phải có căn cứ xác định người có thẩm quyền đã quyết định và từ quyết định này đã trực tiếp gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì mới bị coi là hành vi phạm tội ra quyết định trái pháp luật. Ví dụ: Nguyễn văn A là Đội trưởng Đội thi hành án dân sự huyện X, được phân công chỉ huy lực lượng cưỡng chế buộc gia đình bà Trần thị C phải ra khỏi nhà để giao nhà cho anh Nguyễn Văn B. Khi lực lượng cưỡng chế đã tập kết tại gia đình bà C thì nhận được quyết định tạm hoãn thi hành án nhưng A vẫn ra lệnh cho lực lượng cưỡng chế thi hành việc buộc gia đình bà C ra khỏi nhà.

Trong trường hợp quyết định trái pháp luật là quyết định bằng miệng của cấp trên đối với cấp dưới trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự hoặc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động có liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội hoặc ra bản án trái pháp luật thì cần phân biệt:

-  Nếu người ra quyết định (mệnh lệnh) biết rõ là do mệnh lệnh của mình mà cấp dưới đã truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội hoặc ra bản án trái pháp luật thì thuộc trường hợp quy định tại Điều 367, Điều 368 hoặc Điều 369 Bộ luật hình sự.

-  Nếu người ra quyết định (mệnh lệnh) tuy biết rõ là trái pháp luật nhưng không biết rõ là do mệnh lệnh của mình mà cấp dưới đã truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội hoặc ra bản án trái pháp luật thì thuộc trường hợp quy định tại Điều 370 Bộ luật hình sự.

b.     Hậu quả

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi ra quyết định trái pháp luật chưa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì chưa cấu thành tội phạm này, mà tuỳ trường hợp người có hành vi có thể chỉ bị xử lý hành chính.

Vấn đề đặt ra là, khoản 2 của điều luật cũng quy định tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” là yếu tố định khung hình phạt. Vậy hậu quả nghiêm trọng với thiệt hại cho cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân có gì khác nhau? Đây không phải là trường hợp hy hữu nhà làm luật quy định trong Bộ luật hình sự mà trong một số tội phạm khác, nhà làm luật cũng quy định “gây thiệt hại” và “gây hậu quả”  là hai tình tiết khác nhau trong cùng một điều luật.

Khoa học luật hình sự coi hậu quả do hành vi phạm tội gây ra là những thiệt hại mà người phạm tội gây ra cho xã hội. Như vậy, nếu hiểu hậu quả là những thiệt hại thì giữa hậu quả và thiệt hại không có gì khác nhau. Tuy nhiên, nếu xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thiệt hại là do hành vi (nguyên nhân) trực tiếp gây ra, còn hậu quả có thể còn do hành vi là nguyên nhân gián tiếp gây ra. Ví dụ: Quyết định kê biên tài sản trái phép gây thiệt hại trực tiếp đến việc sử dụng tài sản bị kê biên của chủ sở hữu tài sản, còn hậu quả do quyết định kê biên tài sản trái phép không chỉ bao gồm những thiệt hại về quyền của chủ sở hữu mà còn bao gồm những thiệt hại do không thực hiện được quyền sở hữu gây ra như: mất thu nhập, phải hủy bỏ các hợp đồng do tài sản đã bị kê biên, ảnh hưởng đến đời sống của gia đình chủ sở hữu có tài sản bị kê biên trái phép,…

c.      Các dấu hiệu khách quan khác

Đối với tội ra quyết định trái pháp luật ngoài hành vi khách quan, nhà làm luật còn quy định một dấu hiệu khách quan rất quan trọng, đó là tính trái pháp luật của quyết định mà người có thẩm quyền đã ra.

Một quyết định bị coi là trái pháp luật là quyết định có nội dung không đúng với quy định của pháp luật. Khi xác định tính trái pháp luật của quyết định mà người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ban hành cần phải xem xét cả nội dung và hình thức của quyết định. Nếu một người không có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án mà lại ra quyết định có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì quyết định đó tuy trái pháp luật nhưng người ra quyết định đó không phạm tội ra quyết định trái pháp luật mà tuỳ trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm quyền hoặc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Như vậy tính trái pháp luật của quyết định là đối tượng của tội phạm này chỉ là nhưng quyết định trái pháp luật có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Tính trái pháp luật được biểu hiện không chỉ trái pháp luật về nội dung của quyết định mà còn trái pháp luật cả về hình thức của quyết định đó. Tuy nhiên, người phạm tội ra quyết định trái pháp luật chủ yếu là trái pháp luật về nội dung, còn về hình thức rất ít trường hợp người phạm tội để sai, vì nếu vi phạm về hình thức quyết định thì dễ bị phát hiện, mà người phạm tội đã chủ định ra quyết định trái pháp luật thì bao giờ cũng bằng cách này hay cách khác che giấu hành vi phạm tội của mình.

2.     Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội ra quyết định trái pháp luật thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ việc ra quyết định của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

Điều luật quy định “biết rõ là trái pháp luật” tức là, người phạm tội phải biết rõ quyết định của mình là trái pháp luật, nếu vì lý do nào đó mà người có thẩm quyền không biết rõ là trái pháp luật thì không phạm tội ra quyết định trái pháp luật.

Cũng như đối với tội ra bản án trái pháp luật, điều luật không quy định động cơ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng việc xác định động cơ của người phạm tội rất cần thiết. Căn cứ vào động cơ phạm tội mà có thể xác định người phạm tội có biết rõ quyết định của mình có trái pháp luật hay không.

Nếu người có thẩm quyền ra quyết định và biết rõ là trái pháp luật nhưng vì chấp hành chỉ thị của cấp trên thì tuỳ trường hợp mà người ra quyết định trái pháp luật vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra quyết định trái pháp luật, còn người ra chỉ thị (ra lệnh) có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ hoặc đồng phạm với người ra quyết định trái pháp luật.

Nếu người có thẩm quyền nhận hối lộ mà ra quyết định trái pháp luật thì ngoài tội ra quyết định trái pháp luật còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ -  Điều 354 Bộ luật hình sự. 

 


       QUÝ KHÁCH LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI

 Công ty Luật Hoàng Sa

  P713, Tòa F4, số 114 Trung Kính, Cầu Giấy, HN
  02466564319 - 0911771155   /   F: 02466564319
  Luathoangsa@gmail.com
        Hotline:  0911771155 - 0983017755 
Thong ke

Liên hệ

Hà Nội: P713, Tòa F4, 114 Trung Kính, Cầu Giấy, HN

HCM: 89 Nguyễn Văn Thủ, P. ĐaKao, Quận 1, HCM

Gia Lai: 155 Trường Chinh, TP. Pleiku, Gia Lai

Hotline: 0911771155 - 0983017755

Email: Luathoangsa@gmail.com

Khách hàng tiêu biểu

loichaobatdau Luật Hoàng Sa 
Hỗ trợ trực tuyến
Mọi câu hỏi sẽ được trả lời, gọi Luật sư: 0911771155 (Zalo)