Tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức (điều 340)

ĐOÀN LUẬT SƯ TP. HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT HOÀNG SA

Địa chỉ: P713, Tòa F4, số 114 Trung Kính, Cầu Giấy, HN

Tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức (điều 340)


Bình luận

1. Sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức là hành vi sửa chữa, làm sai lệch nội dung hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức và sử dụng giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật.

2. Các yếu tố cấu thành tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức

* Khách thể

Trật tự quản lý hành chính Nhà nước về hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức. Đối tượng tác động của tội phạm này là hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức.

* Mặt khách quan

- Hành vi sửa chữa, làm sai lệch hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức. Sau khi đã sửa chữa, làm sai lệch các loại giấy tờ trên, người phạm tội dùng giấy tờ đã được sửa chữa, làm sai lệch để thực hiện hành vi trái pháp luật. Thí dụ: dùng hộ chiếu đã bị sửa chữa để xuất cảnh trái phép; dùng giấy khai sinh đã bị sửa chữa để không phải nhập ngũ; dùng giấy chứng nhận hải quan đã bị sửa chữa để tiêu thụ hàng nhập lậu…

- Hành vi sửa chữa, làm sai làm sai lệch hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức và hành vi dùng giấy tờ đã bị sửa chữa, làm sai lệch để thực hiện hành vi trái pháp luật là điều kiện cần và đủ của hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm, nếu thiếu một trong hai hành vi trên đều không cấu thành tội phạm tại Điều 340 Bộ luật hình sự.

Hậu quả vừa là dấu hiệu bắt buộc vừa không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.

+ Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc nếu hành vi sửa chữa, làm sai lệch hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức gây hậu quả nghiêm trọng thì mới cấu thành tội phạm. Thông tư số 02/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BCA – BTP ngày 25/12/2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an và Bộ tư pháp còn hiệu lực thì hướng dẫn áp dụng một số quy định áp dụng tại Chương XIV Bộ luật hình sự năm 1999 về trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi sửa chữa,làm sai lệch hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức gây ra, nếu đó là hậu quả về tính mạng, sức khỏe, tài sản.

Nếu hậu quả không phải là tính mạng, sức khỏe và tài sản, thì phải tuỳ vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá tính chất, mức độ của hành vi và của hậu quả phố vật chất do tội phạm gây ra để xác định có thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hay không.

+ Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc nếu hành vi sửa chữa, làm sai lệch hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức  chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng người thực hiện hành vi đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Điều luật được Bình luận không quy định dấu hiệu khách quan khác là yếu tố bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên, khi xác định một người có phạm tội này hay không cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cần phải căn cứ vào từng loại giấy tờ mà điều luật quy định có thuộc đối tượng tác động của tội phạm hay không.

* Mặt chủ quan

- Lỗi cố ý

- Người phạm tội biết hành vi sửa chữa, làm sai lệch hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức và sử dụng giấy tờ đã sửa chữa đó thực hiện hành vi trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện, mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả nghiêm trọng xảy ra hoặc không cần biết hậu quả của hành vi đó như thế nào.

- Động cơ phạm tội tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng việc xác định động cơ của người phạm tội là rất quan trọng, nếu vì nể nang, vì thành tích cục bộ thì tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác với trường hợp vì lợi ích vật chất hoặc vì trả thù cá ngân hay vì một động cơ hèn hạ khác.

Nếu người phạm tội sửa chữa giấy tờ rồi dùng giấy tờ đã bị sửa chữa vào mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì cần truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà không cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức” nữa, vì hành vi sửa chữa, làm sai lệch giấy chứng nhận của cơ quan , tổ chức là thủ đoạn để người phạm tội thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, còn giấy tờ đã bị sửa chữa là phương tiện để người phạm tội thực hiện tội phạm.

* Chủ thể

Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, người phạm tội này thường là những người có trách nhiệm trong việc cấp hoặc quản lý hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức, vì họ có điều kiện thực hiện hành vi phạm tội hơn đối với người khác.

3.Về hình phạt

- Người nào sửa chữa, làm sai lệch nội dung hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức và sử dụng giấy tờ đó thực hiện tội phạm hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không gian giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm :

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Sử dụng giấy tờ, tài liệu đã bị sửa chữa hoặc làm sai lệch thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.

- Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. 

 


       QUÝ KHÁCH LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI

 Công ty Luật Hoàng Sa

  P713, Tòa F4, số 114 Trung Kính, Cầu Giấy, HN
  02466564319 - 0911771155   /   F: 02466564319
  Luathoangsa@gmail.com
        Hotline:  0911771155 - 0983017755 
Thong ke

Liên hệ

Hà Nội: P713, Tòa F4, 114 Trung Kính, Cầu Giấy, HN

HCM: 89 Nguyễn Văn Thủ, P. ĐaKao, Quận 1, HCM

Gia Lai: 155 Trường Chinh, TP. Pleiku, Gia Lai

Hotline: 0911771155 - 0983017755

Email: Luathoangsa@gmail.com

Khách hàng tiêu biểu

loichaobatdau Luật Hoàng Sa 
Hỗ trợ trực tuyến
Mọi câu hỏi sẽ được trả lời, gọi Luật sư: 0911771155 (Zalo)