Địa chỉ: 12A03, Tòa 24T2, Hoàng Đạo Thúy, Yên Hòa, HN
Quý khách liên hệ với chúng tôi
0911771155
Luathoangsa@gmail.com
ĐOÀN LUẬT SƯ TP. HÀ NỘI
CÔNG TY LUẬT HOÀNG SA

Địa chỉ: 12A03, Tòa 24T2, Hoàng Đạo Thúy, Yên Hòa, HN
Quy định pháp luật và cấu thành tội phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Trước đây hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chỉ bị xử phạt hành chính theo khoản 1 và điểm a, d khoản 8 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ. Và hiện nay, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã được bổ sung là một tội danh trong Bộ luật hình sự số 86/2025/QH15.
1. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT:
Điều 256a quy định về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy:
“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 3 năm:
a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện ma túy bắt buộc, điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy;
c) Đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và đã từng bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
d) Trong thời hạn 2 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.
2. Tái phạm tội này thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm”.
2. CẤU THÀNH TỘI PHẠM:
2.1. Về mặt khách thể
2.2. Về mặt chủ thể
+ Trường hợp tại điểm a khoản 1 Điều 256a: Nếu một người sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện lần đầu, họ sẽ bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong vòng 01 năm. Trong 01 năm đó, nếu phát hiện người này tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì xác định tình trạng nghiện và đưa họ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (tối đa 24 tháng) hoặc cho phép họ cai nghiện tự nguyện (tối đa 12 tháng) hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế. Nếu trong thời hạn cai nghiện hoặc trong thời gian điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy mà phát hiện người đó tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì xử lý hình sự;
+ Trường hợp tại điểm b khoản 1 Điều 256a: Sau thời hạn cai nghiện ma túy, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định để quản lý sau cai đối với những người này, thời hạn quản lý sau cai đối với người đã cai nghiện ma túy tự nguyện là 01 năm và thời hạn quản lý sau cai đối với người đã cai nghiện bắt buộc là 02 năm. Nếu trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy này, người đó bị phát hiện tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì bị xử lý hình sự;
+ Trường hợp tại điểm c khoản 1 Điều 256a: Sau khi hết thời hạn quản lý sau cai (01 năm đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện; 02 năm đối với người cai nghiện ma túy bắt buộc) và trong 02 năm tiếp theo, nếu phát hiện một người sử dụng trái phép chất ma túy thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy (01 năm) đối với người đó, nếu trong thời hạn quản lý này, phát hiện người đó tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì xử lý hình sự;
+ Trường hợp tại điểm d khoản 1 Điều 256a: Nếu một người được cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy mà tự ý chấm dứt việc cai nghiện hoặc điều trị, thì đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc chấm dứt việc điều trị, nếu họ bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy thì sẽ bị xử lý hình sự.
2.3. Về mặt khách quan
2.4. Về mặt chủ quan
3. VƯỚNG MẮC:
Trong thực tiễn áp dụng tội phạm này ngoài những trường hợp cụ thể được quy định tại Điều 256a BLHS 2015, xảy ra trường hợp khi Cơ quan điều tra bắt quả tang đối tượng A về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng thu giữ trên người A còn một lượng ma túy có trọng lượng đủ để khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. A khai số lượng ma túy trên người A là A đang sử dụng chứ không có mục đích tàng trữ làm gì khác. Tiến hành xét nghiệm nước tiểu, kết quả A dương tính với chất ma túy. A có đủ các điều kiện theo quy định tại điểm a,b,c,d khoản 1 Điều 256a BLHS năm 2015. Trường hợp này có xử lý A về 2 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” hay chỉ xử lý A về 1 tội là tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” hay thu hút về tội nặng hơn là tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Trường hợp này có ba quan điểm được đưa ra:
Trong ba quan điểm nêu ra, quan điểm thứ hai là phù hợp hơn với quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng hiện nay. Có thể lập luận như sau:
Theo quan điểm của tác giả, hiện nay pháp luật và các văn bản hướng dẫn áp dụng chưa có quy định cụ thể về việc xử lý trường hợp người vừa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vừa có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Do đó, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai như phân tích nêu trên. Theo đó, mặc dù A vừa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vừa có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng căn cứ nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự theo hướng có lợi cho người phạm tội, việc xử lý nên được thu hút về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thay vì xử lý đồng thời A về hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy” như quan điểm thứ nhất, bởi việc xử lý đồng thời hai tội danh trong trường hợp này sẽ làm bất lợi hơn cho bị cáo.
Mặt khác, nếu chỉ xử lý A về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quan điểm thứ ba thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất hành vi phạm tội, bởi A vẫn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, cách xử lý này có thể dẫn đến việc các đối tượng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khai báo theo hướng sử dụng trái phép chất ma túy nhằm được xử lý về tội danh nhẹ hơn, gây khó khăn cho việc áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn.
Từ những phân tích trên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp hơn, vừa bảo đảm phản ánh đúng bản chất hành vi phạm tội, vừa bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật hình sự.
Ngày 28/01/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng liên tịch ban hành Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại điểm c khoản 6 Điều 9 của Thông tư chính thức ghi nhận nguyên tắc: nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau mà hành vi phạm tội trước là để thực hiện hành vi phạm tội sau hoặc các hành vi phạm tội có liên quan đến nhau, thì khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, ghi rõ từng tội danh. Thông tư này chính thức có hiệu lực, làm rõ hơn căn cứ, thẩm quyền và trình tự thực hiện, chấm dứt tình trạng mỗi nơi một phách kéo dài nhiều năm. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát giờ có căn cứ pháp lý rõ ràng để khởi tố nhiều tội danh khi hành vi phương tiện phục vụ hành vi mục đích. Nhưng Thông tư này có nhiều điểm mâu thuẫn với nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm đặt ra giới hạn rõ ràng là một yếu tố sự kiện không được sử dụng hai lần làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự như đã phân tích nêu trên.
-Theo Tapchitoaan-
.jpg)
Quý khách liên hệ với chúng tôi
Đặt câu hỏi miễn phí
Luật Hoàng Sa