Địa chỉ: 12A03, Tòa 24T2, Hoàng Đạo Thúy, Yên Hòa, HN
Quý khách liên hệ với chúng tôi
0911771155
Luathoangsa@gmail.com
ĐOÀN LUẬT SƯ TP. HÀ NỘI
CÔNG TY LUẬT HOÀNG SA

Địa chỉ: 12A03, Tòa 24T2, Hoàng Đạo Thúy, Yên Hòa, HN
Công văn số 250 năm 2026 Tòa tối cao giải đáp trực tuyết trong xét xử
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
|
|
Số: 250/TANDTC-PC V/v thông báo kết quả trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử |
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2026 |
|
|
|
Kính gửi: |
|
||
|
|
|
||
Ngày 01/4/2026, Tòa án nhân dân tối cao tối cao tổ chức Hội nghị trực tuyến để Hội đồng Thẩm phán giải đáp một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các vụ án, vụ việc tại các Tòa án, đơn vị. Trên cơ sở các vướng mắc và giải đáp của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp một số khó khăn, vướng mắc như sau:
I.VỀ HÌNH SỰ, TỐ TỤNG HÌNH SỰ, THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VÀ TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.Người phạm tội bị tuyên hình phạt tử hình (trước ngày 01/7/2025) về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) với khối lượng ma túy rất lớn nhưng họ không phải là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên thì họ có được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân không?
Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) thì hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 01/7/2025 đối với người phạm tội về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) mà chưa thi hành án thì được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự mà người phạm tội không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên.
Do đó, trường hợp này, nếu bản án không xác định người phạm tội là người chủ mưu, cầm đẩu hoặc chỉ huy hoặc không xác định họ có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên theo hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết số 03/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân thì Tòa án xem xét, quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người phạm tội, không phụ thuộc vào khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án.
2. Khi xử lý vật, tiền có liên quan trong vụ án hình sự về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tổng số tiền cho vay qua nhiều lần giao dịch hay chỉ căn cứ vào số tiền gốc ban đầu để tịch thu sung quỹ nhà nước?
Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì phải tịch thu sung quỹ nhà nước đối với khoản tiền, tài sản khác mà người phạm tội dùng để cho vay. Theo đó, tùy từng trường hợp xử lý như sau:
Ví dụ: Lần 1, ngày 01/01/2025, Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay với số tiền gốc là 10.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày với số tiền lãi là 1.400.000 đồng (20.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày). Lần 2, ngày 05/01/2025, A lại tiếp tục cho B vay với số tiền 50.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày, với số tiền lãi là 7.000.000 đồng. Trường hợp này, tổng số tiền cho vay được xác định là 60.000.000 đồng.
Ví dụ: Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay lần 1 với số tiền gốc là 10.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày với lãi suất là 1.400.000 đồng (20.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày). Đến hạn B không trả được nợ cho A nên A tiếp tục lập giấy vay nợ lần 2 với tổng số tiền là 11.400.000 đồng (bao gồm tiền gốc và lãi lần 1) trong thời hạn 07 ngày với lãi suất 17.556.000 đồng. Trường hợp này, số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu được xác định là 10.000.000 đồng.
3. Bị cáo thực hiện hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai trước khi tham gia giao thông không uống rượu, bia. Kết quả giám định xác định nồng độ cồn trong máu của bị cáo là 0,282mg/100ml (không xác định nồng độ cồn do nguyên nhân nào). Trường hợp này có áp dụng tình tiết “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo không?
.jpg)
Quý khách liên hệ với chúng tôi
Đặt câu hỏi miễn phí
Luật Hoàng Sa