Người phạm tội là phụ nữ có thai, người trên 70 tuổi, người khuyết tật nặng, người có bệnh hạn chế nhận thức, tự thú

ĐOÀN LUẬT SƯ TP. HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT HOÀNG SA

Địa chỉ: 12A03, Tòa 24T2, Hoàng Đạo Thúy, Yên Hòa, HN

Người phạm tội là phụ nữ có thai, người trên 70 tuổi, người khuyết tật nặng, người có bệnh hạn chế nhận thức, tự thú.


Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP quy định tình tiết “Người phạm tội là phụ nữ có thai”, “Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên”, “Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng”, “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” và “Người phạm tội tự thú” như sau:

1. “Người phạm tội là phụ nữ có thai”, “Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên”:

  • Quy định tại điểm n và điểm o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội là phụ nữ có thai hoặc là người từ đủ 70 tuổi trở lên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội hoặc trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xác định người phạm tội là phụ nữ có thai hoặc là người từ đủ 70 tuổi trở lên phải căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn hoặc giấy tờ, tài liệu hợp pháp khác.

2. “Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng”:

Quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội bị khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội hoặc trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến suy giảm hoặc mất một phần chức năng, không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, chăm sóc; cũng được coi là người khuyết tật nặng nếu có khả năng tự phục vụ sinh hoạt khi có người, phương tiện trợ giúp một phần hoặc suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%;

b) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không thể tự kiểm soát hoặc không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà luôn phải có người theo dõi, chăm sóc; cũng được coi là người khuyết tật đặc biệt nặng nếu không còn khả năng tự phục vụ hoặc suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

Người khuyết tật nặng hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng được xác định theo quy định của Luật Người khuyết tật và quy định khác của pháp luật. Tòa án căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn y tế, kết luận giám định hoặc chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền để xác định người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

Khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ này thì mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào mức độ khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của người phạm tội.

Ví dụ: Ngày 20/3/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi cướp tài sản, chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại trị giá 20.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn S. Ngày 24/5/2025, A bị tai nạn giao thông và phải cắt bỏ chân phải và được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận khuyết tật mức độ nặng do bị suy giảm khả năng lao động 65%. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

3. “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người phạm tội là người có bệnh mà bệnh đó là nguyên nhân làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội;

b) Người phạm tội đã mắc bệnh mà bệnh đó làm cho họ không điều khiển được hành vi theo ý muốn của mình (hạn chế về khả năng vận động của cơ thể) mặc dù họ vẫn nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của hành vi đó.

Chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ này nếu là người phạm tội có bệnh, được cơ quan chuyên môn kết luận và bệnh đó là nguyên nhân dẫn đến hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội.

Ví dụ: Nguyễn Văn A có hành vi cố ý gây thương tích đối với chị Nguyễn Thị B. Kết luận giám định pháp y tâm thần xác định A trong khi phạm tội bị hạn chế khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi do bệnh rối loạn tâm thần, bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ vừa. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

4. “Người phạm tội tự thú”:

  • Quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện. Trường hợp người phạm tội bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện.
  • Ví dụ: Ngay sau khi có hành vi gây tai nạn giao thông, hậu quả làm chết người, Nguyễn Văn A đã đến cơ quan công an cấp xã để trình diện và khai báo về hành vi phạm tội của mình. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

 


       Quý khách liên hệ với chúng tôi

 CÔNG TY LUẬT TNHH HOÀNG SA

  12A03, Tòa 24T2, Hoàng Đạo Thúy, Yên Hòa, HN
  0911771155
  Luathoangsa@gmail.com
        Hotline:  0911771155 (Luật sư Giáp)
Thong ke

Khách hàng tiêu biểu

Đặt câu hỏi miễn phí

loichaobatdau Luật Hoàng Sa 
Hỗ trợ trực tuyến
Mọi câu hỏi sẽ được trả lời, gọi Luật sư: 0911771155 (Zalo)